Thứ Sáu, 22 tháng 7, 2016

Vitamin h có trong thực phẩm nào


Vitamin H hay vitamin B8 thuộc nhóm vitamin tan trong nước. Khi vào cơ thể, vitamin H được tổng hợp một phần nhờ vi khuẩn ruột và hiện nay đã được tổng hợp bằng phương pháp hóa học.
vitamin H tham gia chuyển hóa mỡ và bã nhờn ở da, dinh dưỡng da và niêm mạc.
Khi thiếu vitamin H gây viêm da, viêm lưỡi, đau cơ, mệt mỏi, chán ăn, thiếu máu, rụng tóc… nên nó được chỉ định dùng trong điều trị các bệnh như trứng cá, viêm lưỡi, viêm miệng, tăng tiết bã nhờn, kết hợp các thuốc khác để điều trị hói đầu.

Vitamin này có nhiều trong:
Gạo, ngũ cốc và các loại hạt (hạnh nhân, óc chó)
Các loại đậu
Gan bò, sữa, cá, lòng đỏ trứng, thịt nạc
Chuối, dâu tây, bưởi, nho, bơ, cà rốt, khoai tây

 Dưới đây là một số thực phẩm giàu vitamin H, bạn có thể tham khảo để bổ sung:

Gan nấu chín: chứa 27 đến 35mcg vitamin H.

Ngũ cốc và các sản phẩm ngũ cốc nguyên hạt như đậu phộng, quả óc chó, hạnh nhân, quả hồ đào, đậu nành, bánh mỳ... Một lát bánh mỳ cung cấp cho chúng ta từ 0,02 tới 6mcg vitamin này, một chén đậu phộng có chứa tới 73mcg vitamin H.

Men và men bia: Một gói nấm men trọng lượng 7g chứa tới 14mcg vitamin H.

Thịt lợn: Trong 87g thịt lợn có thể cung cấp từ 2 tới 4mcg vitamin H.

Cá hồi, cá tuyết chấm đen, cá ngừ: Trong 87g cá này chứa khoảng 4mcg, 5mcg và 2,6mcg.

Trứng: Một quả trứng to có thể cung cấp từ 13 tới 25mcg. Nên chú ý khi ăn lòng trắng trứng vì nó có chứa chất Avidin, một loại protein kháng khuẩn liên kết với vitamin H và ngăn chặn quá trình hấp thu của cơ thể.

Sữa chua: Một cốc sữa chua với hàm lượng chất béo thấp chứa 7,4mcg vitamin H; Một cốc sữa chua không béo chứa 4,9mcg.

Phô mai: 29g phô mai có chứa từ 0,4 tới 2mcg vitamin H.

Ngoài ra nên ăn nhiều rau, củ, quả như: Cải bắp, bông cải xanh, súp lơ, củ cải đường, cải xoăn, khoai lang, khoai tây trắng, quả bơ, chuối, mâm xôi…

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2016

Vitamin tăng sức đề kháng cho bé

Vitamin tăng sức đề kháng cho bé là các loại vitamin giúp làm tăng khả năng bảo vệ chống lại các tác nhân xâm nhập vào cơ thể con người có thể là virus, vi khuẩn, ký sinh trùng gây hại ...
Có những loại vitamin tăng cường sức đề kháng cho bé như sau:

  1. Vitamin A: Giúp ổn định màng tế bào da trên cơ thể, tăng cường chức năng hệ thống miễn dịch. Khi cơ thể thiếu vitamin A thì rất dễ bị viêm nhiễm đường hô hấp.
  2. Vitamin C: Hỗ trợ tăng cường sức đề kháng toàn diện cho cơ thể, giúp đào thải các chất có hại ra ngoài tế bào bạch huyết, phục hồi khả năng các tế bào bị thương tổn. Lúc bị cảm hoặc sốt nồng độ vitamin C trong tế bào bạch huyết sẽ bị giảm thấp.
  3. Kẽm: Đây là dưỡng chất có thể trực tiếp khống chế sự sinh sôi nảy nở của virus đồng thời tăng cường khả năng đề kháng cho cơ thể. Kẽm vẫn được mệnh danh là khắc tinh của virus.

Chủ Nhật, 17 tháng 7, 2016

Vitamin và khoáng chất cho trẻ em

Vitamin và các chất khoáng là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển cơ thể trẻ em. Trẻ có sức khỏe bình thường, được bú mẹ và ăn uống đầy đủ sẽ không bị thiếu vitamin và khoáng chất.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp như trẻ sinh non, sinh đôi, trẻ lớn quá nhanh, chất lượng bữa ăn không bảo đảm, không được bú sữa mẹ, bị suy dinh dưỡng, tiêu chảy kéo dài, rối loạn hấp thu, mắc các bệnh về gan, mật... sẽ bị thiếu vitamin và khoáng chất.
Về mặt lý thuyết, nếu trẻ ăn uống cân bằng, hợp lý, đầy đủ và thể trạng bình thường (tức không có dấu hiệu suy dinh dưỡng) thì không cần bổ sung vitamin. Tuy nhiên, nếu nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đầy đủ thì ngay cả những trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin. Bởi vì các vitamin vốn có trong thực phẩm vẫn có thể bị mất hay giảm đi trong một bữa ăn đầy đủ nếu như chất lượng thực phẩm không bảo đảm (rau bị héo, trái cây không còn tươi nên mất nhiều vitamin C), hoặc thực phẩm được bảo quản và chế biến không tốt (gạo càng trắng càng có ít vitamin B1, thức ăn nấu quá kỹ vitamin C sẽ không còn...).
     Vì vậy, trong nhiều trường hợp, bác sĩ thường khuyên nên cho những trẻ khỏe mạnh uống bổ sung vitamin. Những trẻ béo phì thì nên ăn chế độ ít chất béo và đồng thời bổ sung vitamin, bởi chế độ ăn ít chất béo không giúp hấp thu đủ lượng vitamin tan trong dầu là vitamin A, D, E, K.


  • Vitamin A: hỗ trợ sự phát triển của trẻ, tốt cho xương, da, mắt và hệ miễn dịch. Nguồn vitamin A tự nhiên đến từ sữa, phô mai, trứng và các loại rau quả có màu vàng cam như cà rốt, bí đỏ…
  • Vitamin nhóm B: B1, B2, B6, B12 góp phần quan trọng trong việc chuyển hóa và sản sinh năng lượng, hỗ trợ hệ thống tuần hoàn và thần kinh hoạt động tốt. Nguồn vitamin nhóm B tự nhiên có trong các loại thịt, cá, trứng, sữa, các loại đậu và hạt.
  • Vitamin C: tăng cường khả năng miễn dịch, kìm hãm sự lão hóa của tế bào, bảo vệ mô, kích thích nhanh liền sẹo. Nguồn vitamin C tự nhiên có trong các loại trái cây họ cam chanh, cà chua và cả một số loại rau xanh như bông cải xanh.
  • Vitamin D: giúp cơ thể hấp thụ canxi tốt hơn, cho xương và răng khỏe mạnh. Nguồn vitamin D tốt nhất không đến từ đồ ăn mà đến từ ánh nắng mặt trời; ngoài ra lòng đỏ trứng, dầu cá và các chế phẩm từ sữa cũng có chứa vitamin D.
  • Canxi: giúp xây dựng bộ xương chắc khỏe, cứng cáp. Canxi có nhiều trong sữa, phô mai, sữa chua, đậu phụ.
  • Sắt: là một phần không thể thiếu cho các tế bào hồng (đối với trẻ mắc bệnh thiếu men G6PD không nên bổ sung thêm sắt). Thiếu sắt gây rủi ro lớn về sức khỏe trong thời kỳ dậy thì, đặc biệt ở các bé gái bắt đầu xuất hiện kinh nguyệt. Nguồn cung cấp sắt đến từ thịt bò và các loại thịt đỏ khác, thịt lợn, rau cải bó xôi, các loại đậu và trái mận.

Vitamin uống trước hay sau bữa ăn


Cơ thể của bạn hoạt động phù hợp với từng thời điểm trong ngày, tùy thuộc vào công việc và thói quen của bạn, vì vậy bổ sung vitamin hợp lý chính là cách giúp bạn hấp thu vi chất tốt nhất, đồng thời nâng cao hiệu năng hoạt động của cơ thể.


Ai cũng biết là một ngày hoạt động bình thường của chúng ta sẽ có 3 bữa ăn, các thời điểm nghỉ ngơi là buổi tối, ban đêm và một buổi nghỉ ngắn giữa trưa. Khoảng thời gian buổi sáng bao giờ cũng dồi dào sinh khí và sức mạnh trong khi cuối buổi đi làm về thì là lúc cơ thể mệt mỏi uể oải… Vậy chúng ta sẽ uống vitamin vào lúc nào để phù hợp với cơ thể?

Vitamin C, B1, B2... là các vitamin tan được trong nước, vì thế uống sau bữa ăn là thích hợp bởi các vitamin này sẽ nhanh chóng thấm qua dạ dày và thành ruột. Nếu uống khi đói, phần lớn vitamin sẽ bị cơ thể bài tiết ra ngoài khi các mô trong cơ thể hấp thụ chưa hết.
Ngoài ra, những vitamin tan trong mỡ như vitamin A, D, E... nên uống sau bữa ăn, vì khi đó, đường ruột và dạ dày tích trữ một lượng mỡ từ thức ăn nên có lợi cho sự hoà tan vitamin, làm cho cơ thể hấp thu dễ dàng.

Sẽ rất khó cho bạn nếu bạn phải cố gắng ghi nhớ uống vitamin này vào lúc này, vitamin kia vào lúc khác, nhất là khi bạn đang cần bổ sung nhiều loại vitamin khác nhau. Có một số cách đơn giản giúp bạn có thể nhớ và sử dụng vitamin hiệu quả:

Hãy đặt thời gian biểu đối với mỗi loại vitamin bạn uống hàng ngày, có thể sử dụng lịch nhắc trong điện thoại của bạn chẳng hạn.
Hãy để hộp thuốc gần những nơi bạn có thể thấy trong bữa ăn, như vậy bạn sẽ không quên uống thuốc trước, trong hoặc sau bữa ăn.
Đừng quên rằng vitamin không chỉ là thuốc mà còn có trong thức ăn, có thói quen xây dựng những thực đơn giàu dinh dưỡng và hợp lý chính là cách lâu dài và tốt nhất cho cả gia đình.

Trẻ em rất cần vitamin cho sự phát triển và trí tuệ. Hãy theo dõi bé để có thể giúp bé bổ sung vitamin thật tốt nhé.


Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2016

18 loại thực phẩm chứa nhiều Vitamin K

Vitamin K là gì?
Vitamin K là một nhóm các vitamin tan trong mỡ rất cần thiết để cơ thể sử dụng Canxi giúp xương và động mạch khỏe mạnh. Vitamin K cũng rất cần thiết cho gan để làm đông máu.
Vai trò đặc biệt của Vitamin K:
   Nó hoạt hóa các nhân tố làm đông máu, liên kết canxi trên bề mặt của xương và loại bỏ lượng canxi tích tụ trong động mạch.
Vitamin K trong thức ăn:
   Hai dạng quan trọng nhất của vitamin K là K1 và K2. Vitamin K1 là nguồn cơ bản của vitamin K trong thức ăn cần thiết cho quá trình đông máu của cơ thể. Vitamin K2 tồn tại ở vài dạng nhưng phổ biến nhất là MK-4 và MK-7. Có thể tìm thấy MK-7 trong các loại thức ăn đã được lên men như pho mát chín, sữa đông và Natto ( những hạt đậu nành đã luộc chín ủ với enzym để lên men thành những hạt đậu có màu nâu chứa nhiều acid Glutamic) một món ăn truyền thống của người Nhật , món này chứa nhiều MK-7 hơn bất cứ món ăn nào khác. Vitamin K2 rất cần để giúp hình thành và duy trì xương chắc khỏe và ngăn cản quá trình tích tụ canxi trong động mạch.
   Cơ thể không tự tổng hợp được vitamin K và hầu như phải thu nạp từ thức ăn hàng ngày.
   Vitamin K1 có nhiều trong các loại rau xanh lá đậm màu như rau bina, cải bông và cải xoăn. Tuy vậy vitamin K1 rất khó hấp thụ vào cơ thể, chỉ có khoảng 10% được hấp thụ vào tuần hoàn máu, gan cũng hấp thụ vitamin K1 để lại một lượng rất ít cho các mô khác chính vì thế mà vitamin K1 không có hoặc có rất ít ảnh hưởng tới sức khỏe tim mạch.
   Vitamin K2 tự nhiên được tổng hợp trong quá trình lên men vi khuẩn  có nhiều trong pho mát, sữa đông và natto.
Sau đây là 18 loại thực phẩm chứa nhiều Vitamin K 


  1. Rau cải bó xôi- rau bina
  2. Húng quế - Basil
  3. Cải xoăn- làm giảm cholesterol và giúp ngăn ngừa ung thư, nó rất giàu vitamin K
  4. Bắp cải
  5. Mù tạt
  6. Mùi tây
  7. Bông cải xanh
  8. Măng tây
  9. Cần tây
  10. Cây ngón tay
  11. Dưa chuột
  12. Rau xà lách
  13. Cà rốt
  14. Trứng
  15. Ớt bột
  16. Dầu olive
  17. Pho mát
  18. Natto

Vitamin mk7 có trong thực phẩm nào?

Có những loại vitamin K nào?

Vitamin K là nhóm vitamin tan trong chất béo với hai đồng đẳng tự nhiên K1, K2.

K1 (phylloquinone) được tổng hợp bởi thực vật và đóng một vai trò trực tiếp trong quá trình quang hợp. Các rau lá xanh là một trong những nguồn cung cấp giàu K1 nhất cho con người.

Vitamin K2 tồn tại ở vài dạng, những dạng phổ biến nhất là menaquinone tổng hợp 4 (MK4) và menaquinone tự nhiên 7 (MK-7). Có thể tìm thấy MK-7 trong các loại thức ăn đã được lên men, như pho mát chín, sữa đông, và natto.

MK-7  là loại vitamin K lí tưởng nhất cho sức khỏe

Tất cả các dạng vitamin K đều có cấu trúc tương tự nhau: thành phần cơ bản giống nhau, nhưng khác nhau về số lượng nguyên tử cacbon và hidro tạo thành mạch nhánh.  Độ dài của mạch nhánh này ảnh hưởng đến hiệu quả của vitamin K. Mạch nhánh càng dài thì hấp thụ càng tốt, hoạt động sinh học và thời gian tồn tại trong mạch máu lâu hơn, do đó dễ dàng đáp ứng nhu cầu cơ thể. Chính vì thế, những chuỗi menaquinone dài (đặc biệt là MK-7) là lí tưởng nhất cho sức khỏe.
Cơ chế tác dụng của MK-7

MK-7 là một đồng yếu tố đối với enzyme γ-glutamate carboxylase (GGCX). Chúng cùng cần cho quá trình carboxyl hóa của các protein. Quá trình carboxyl hóa của các protein được hoàn tất bằng việc chuyển đổi gốc axit glutamic trong cấu trúc protein thành gốc axit γ-carboxyglutamic (Gla). Các gốc Gla này thể hiện ái lực gắn kết mạnh mẽ với canxi. Sự biến đổi này cho phép các protein thực hiện chức năng mong muốn của chúng.

MK-7 có vai trò quyết định cho sự hình thành và duy trì xương chắc khỏe

MK-7 có liên quan đến sức khỏe của xương vì nó cần cho phản ứng carboxyl hóa của osteocalcin (quá trình hoạt hóa osteocalcin), loại protein non-collagenous được tìm thấy nhiều nhất trong xương. MK-7 và GGCX biến đổi osteocalcin, đồng thời tạo ra ba đuôi Gla, tất cả đều có ái lực gắn kết mạnh mẽ với canxi. Osteocalcin được carboxyl hóa trong xương có thể dễ dàng gắn kết với canxi và sau đó đặt khoáng chất này trong cấu trúc hydroxyapatite để có thể được lắng đọng thành xương trong quá trình hình thành xương rắn chắc. Quá trình hình thành và duy trì xương chắc khỏe phụ thuộc vào MK-7.

MK7 (K2) giúp osteocalcin vận chuyển calci vào xương

MK-7 ức chế vôi hóa động mạch, tránh xơ vữa mạch máu

MK-7 cần thiết cho phản ứng carboxyl hóa của Protein Matrix Gla gian bào (MGP), một protein mà ngay khi được carboxyl hóa thì có thể gắn kết và hỗ trợ quá trình phân bổ thích hợp canxi trong cơ thể. Sau khi được carboxyl hóa , MGP gắn chặt với canxi, vận chuyển canxi ra khỏi mạch máu, ngăn chặn sự lắng đọng của canxi ở thành mạch, tránh xơ vữa mạch máu.
MGP được tìm thấy trong xương, tim, thận và phổi. Sức khỏe tim mạch phụ thuộc vào MK-7.

Thiếu MK-7 mối lo ngại thời thơ ấu

Một nghiên cứu cắt ngang phát hiện thấy tình trạng MK-7 thấp là một mối lo ngại trong thời thơ ấu. Ở nhóm trẻ khỏe mạnh (n=86, độ tuổi trung bình: 10 tuổi), tỉ lệ giữa osteocalcin chưa carboxyl hóa với osteocalcin carboxyl hóa cao một cách đáng kể và thể hiện một tình trạng MK-7 rất thấp. Trẻ có biểu hiện thiếu hụt MK-7 cho chuyển hóa xương ở hầu khắp các giai đoạn phát triển khác nhau.

Thiếu MK-7 trẻ không đạt chiều cao lý tưởng lúc trưởng thành

Trong thời thơ ấu, cơ thể sản xuất một lượng osteocalcin cao hơn10 lần so với bất cứ lúc nào sau khi đạt được khối lượng xương đỉnh. Điều này không có gì đáng ngạc nhiên vì quá trình khoáng hóa và hình thành xương đạt tới đỉnh trước tuổi 25. Tuy nhiên, lượng osteocalcin được sản xuất ra sẽ lãng phí nếu nó không được carboxyl hoá. Một nghiên cứu gần đây cho thấy trẻ khỏe mạnh có lượng osteocalcin không được carboxyl hóa cao hơn người lớn và do đó có nhiều trẻ có biểu hiển thiếu hụt MK-7 để xương phát triển. MK-7 không đủ đáp ứng nhu cầu cơ thể khi còn trẻ làm giảm quá trình tạo xương. Trẻ không đạt chiều cao lý tưởng lúc trưởng thành.

MK-7  an toàn cao qua nhiều thế hệ sử dụng tại Nhật

Điểm đích ban đầu của MK-7 sau khi hấp thu qua đường tiêu hóa là gan. Toàn bộ nhu cầu MK-7 (cho chức năng đông máu) của gan được ưu tiên số một. Nếu toàn bộ nhu cầu cho chức năng đông máu đã được đáp ứng, thì lượng MK-7 thừa ra sẽ được chuyển tới các mô khác ngoài gan, nơi nó có thể thực hiện chức năng tạo xương của mình. Có một quan niệm sai lầm hoặc nỗi lo sợ phổ biến là liều lớn MK-7 sẽ làm tăng nguy cơ gây cục máu đông. Tuy nhiên tác dụng độc tính của MK-7 là rất hiếm và theo như dược động học của MK-7 thì lượng thừa MK-7 được vận chuyển ra ngoài gan cho các chức năng khác và không có tác dụng carboxyl hóa yếu tố đông máu nữa.

MK-7 được chiết xuất từ món natto của người Nhật. Trải qua nhiều thế hệ, người Nhật dùng natto như một món ăn hàng ngày nhằm tăng cường sức khỏe tim mạch và xương cốt mà không hề có tác dụng bất lợi nào.

Theo tienphong.vn

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2016

Vitamin 3b uống trước hay sau bữa ăn?

Trước tiên bạn cần biết sơ sơ thành phần của từng thuốc và mục đích uống của bạn:
- Vitamin E, vitamin D: cung cấp vitamin E và D
- B complex C: cung cấp các vitamin nhóm B và vitamin C
- Centrum: là 1 loại đa sinh tố, bao gồm vitamin nhóm B (B1, B2, B6, B 5, B9, B12), vitamin A, D, E, K và một số khoáng chất như: calcium, phôtpho, iron, iot, magne, kẽm, selen,... Tùy theo loại Centrum mà thành phần các chất có thay đổi chút ít dành cho từng đối tượng (ví dụ Centrum silver ultra woman, Centrum silver ultra man, Centrum silver multivitamin...)
- Multivitamin cũng là loại đa sinh tố tương tự Centrum nhưng thành phần có thay đổi chút ít tùy hãng thuốc.
Đến đây bạn đã hiểu là không nên uống tất cả các loại cùng một ngày rồi phải không nào. Thuốc, cho dù có là thuốc bổ đi nữa cũng vẫn là... thuốc. Tức là có các tác dụng phụ có hại và quá liều vẫn gây ngộ độc, thậm chí gây chết người như thường. Xin ví dụ: nếu quá liều vitamin C có thể gây sỏi thận, ngộ độc vitamin A có thể gây tăng áp lực nội sọ, dị ứng với vitamin nhóm B mà hay gặp là B6, B1, hay B12, có thể gây mày đay (nhẹ) hay shock phản vệ (nặng).
Như thế tùy theo mục đích sử dụng mà bạn nên uống loại nào, ví dụ:
- Bạn bị cảm thì có thể uống B complex ngày 2 viên
- Bạn muốn điểu trị loãng xương thì uống vitamin D (nhưng không nên uống kéo dài và phải kết hợp thêm tập thể dục)
- Bạn muốn bổ sung thêm vì đang trong chế độ ăn kiêng vì bệnh lý nào đó như tiểu đường, tim mạch,... thì uống loại Multivitamin hay Centrum ngày 1 viên, và cũng không nên uống kéo dài.
Để tất cả các sinh tố được hấp thu tốt, thường nên uống vào ban ngày và tốt nhất là buổi sáng. Các viên vitamin đơn lẻ có thể uống trước hay sau ăn đều được. Riêng các viên đa sinh tố (Multivitamin hay Centrum ) nên uống sau ăn thì sẽ đỡ khó chịu hơn.
Sẽ rất khó cho bạn nếu bạn phải cố gắng ghi nhớ uống vitamin này vào lúc này, vitamin kia vào lúc khác, nhất là khi bạn đang cần bổ sung nhiều loại vitamin khác nhau. Có một số cách đơn giản giúp bạn có thể nhớ và sử dụng vitamin hiệu quả:

Hãy đặt thời gian biểu đối với mỗi loại vitamin bạn uống hàng ngày, có thể sử dụng lịch nhắc trong điện thoại của bạn chẳng hạn.
Hãy để hộp thuốc gần những nơi bạn có thể thấy trong bữa ăn, như vậy bạn sẽ không quên uống thuốc trước, trong hoặc sau bữa ăn.
Đừng quên rằng vitamin không chỉ là thuốc mà còn có trong thức ăn, có thói quen xây dựng những thực đơn giàu dinh dưỡng và hợp lý chính là cách lâu dài và tốt nhất cho cả gia đình.

Trẻ em rất cần vitamin cho sự phát triển và trí tuệ. Hãy theo dõi bé để có thể giúp bé bổ sung vitamin thật tốt nhé.
Còn 1 điều nữa bạn nên lưu ý là thuốc bổ có thể tương tác hay tương kỵ với các loại thuốc trị bệnh nào đó, vì vậy nếu bạn bị bệnh, phải báo cho BS điều trị biết bạn đang uống loại thuốc bổ nào