}MỤC TIÊU:
}Trình bày được lượng cần bổ sung khi thiếu của một số vitamin và chất khoáng sau đây: A, C, B1, B6, B12, calci, sắt, iod.}Trình bày được các nguyên nhân gây thiếu vitamin, chất khoáng và nêu được biện pháp khắc phục}Trình bày được các nguyên nhân gây thừa vitamin và chất khoáng và nêu được biện pháp hạn chế nguy cơ này
Vitamin là các chất hữu cơ có sẵn trong thực phẩm, ngũ cốc rất cần thiết cho cuộc soosng hằng ngày. Vitamin luôn tồn tại cùng các khóng chất ( Ca, Mg, Cu, Zn.....)
Nhóm các chất này không tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động như glucocid, lipit cũng không tham gia vào tạo các tế bào cho cơ thể như protid, lượng cần đưa vào hàng ngày rất nhỏ ( thường chỉ tính bằng miligam) nhưng lại quan tr4ojng cho sự sống.
Vitamin và khoáng chất tham gia tạo nên các enzym cần cho chuyển hóa các chất hoặc bản thân là các chất sinh học có hoạt tính mạnh nên khi thiếu hoặc thừa so với nhu cầu hằng ngày thì đều có thể gây bệnh
I. NHU CẦU HÀNG NGÀY VỀ VITAMIN VÀ CHẤT KHOÁNG
Vitamin là các chất hữu cơ có sẵn trong thực phẩm, ngũ cốc rất cần thiết cho cuộc soosng hằng ngày. Vitamin luôn tồn tại cùng các khóng chất ( Ca, Mg, Cu, Zn.....)
Nhóm các chất này không tạo ra năng lượng cho cơ thể hoạt động như glucocid, lipit cũng không tham gia vào tạo các tế bào cho cơ thể như protid, lượng cần đưa vào hàng ngày rất nhỏ ( thường chỉ tính bằng miligam) nhưng lại quan tr4ojng cho sự sống.
Vitamin và khoáng chất tham gia tạo nên các enzym cần cho chuyển hóa các chất hoặc bản thân là các chất sinh học có hoạt tính mạnh nên khi thiếu hoặc thừa so với nhu cầu hằng ngày thì đều có thể gây bệnh
I. NHU CẦU HÀNG NGÀY VỀ VITAMIN VÀ CHẤT KHOÁNG
- Bình thường liều dùng của các vitamin khóng chất chỉ nên khoảng từ 3-5 lần trong bảng. Dùng kéo dài những lượng lớn hơn 10 lần so với nhu cầu thực tế có thể dẫn đến tìn h trạng bệnh lý do thừa vitamin và khóng chất.
}Hai vitamin có phạm vi an toàn hẹp nhất là Vitamin A và D. Liều tối đa cho phép chỉ gấp 10 lần nhu cầu trong bảng.
}Vitamin A đặc biệt nguy hiểm khi dùng liều cao cho phụ nữ có thai vì có nguy cơ gây quái thai hoặc tăng áp lực nội sọ ở thai nhi.
}Phụ nữ có thai nếu cần bổ sung chỉ được dùng những liều bằng lượng ghi trong bảng.
}Lượng vitamin và khoáng chất cần bổ sung hàng ngày tuỳ thuộc vào lứa tuổi, trạng thái bệnh lý …
}Trạng thái sinh lý: Nhu cầu hàng ngày sẽ tăng không chỉ theo lứa tuổi, khi có thai … mà cả theo hoạt động thể lực, lao động nặng, hoạt động thể thao …)
}Trạng thái bệnh lý: Khi bị bệnh kéo dài, đặc biệt là những trạng thái bệnh lý liên quan đến hệ tiêu hoá, nơi hấp thu vitamin (tắc mật, cắt đoạn dạ dày, ỉa chảy kéo dài …), khi gặp stress (sốt cao, sau mổ, nhiễm khuẩn nặng …).
II. THIẾU VITAMIN VÀ CHẤT KHOÁNG
2.1. Nguyên nhân gây thiếu:
} Các vitamin và chất khoáng luôn có sẵn trong ngũ cốc và thực phẩm (gạo, mỳ, thịt, cá, trứng, sữa, rau …), vì vậy đối với những người không có quá trình rối loạn hấp thu ở đường tiêu hoá (ỉa chảy, viêm tuỵ, loét dạ dày tá tràng …) và không ăn kiêng, có chế độ ăn cân đối với thực phẩm đảm bảo chất lượng thì không bao giờ thiếu và không cần bổ sung.
Vitamin luôn tồn tại song song với chất khoáng và các nguyên tố vi lượng (sắt, đồng, kẽm, calci …) nên những trường hợp thiếu vitamin cũng thường kèm theo thiếu cả chất khoáng và do đó khi bổ sung cũng cần tính đến cả chất khoáng.
Tuy nhiên, chất khoáng khá bền và ít bị hao hụt nên nguy cơ thiếu cũng ít hơn; việc bổ sung chất khoáng cần thận trọng vì phạm vi an toàn hẹp, dễ dẫn đến ngộ độc do quá liều.
2.1.1. Do cung cấp thiếu:
}Chất lượng thực phẩm không đảm bảo
}Khâu chế biến không đúng cũng có thể làm giảm lượng vitamin mặc dù chất lượng thực phẩm ban đầu tốt.
}Nghiện rượu: Nghiện rượu gây xơ gan dẫn đến giảm khả năng dự trữ vitamin của gan, gây tắc mật làm giảm hấp thu vitamin tan trong dầu, thiếu albumin làm giảm hấp thu vitamin A …
}Do đất và nguồn nước ở từng địa phương: Chất đất và nước ở một số vùng có hàm lượng iod hoặc fluorid thấp gây bệnh bướu cổ, hỏng răng …
2.1.2. Do rối loạn hấp thu:
}Suy dinh duỡng, ỉa chảy kéo dài, nghiện rượu
}Ở người cao tuổi: giảm chức năng của hệ tiêu hoá: Giảm sự tiêt dịch vị, dịch mật, dịch tuỵ, nhu động ruột yếu, hay bị táo bón nên việc dùng thuốc nhuận tràng kéo dài cũng là một nguyên nhân cản trở hấp thu các chất, trong đó có vitamin và chất khoáng.
}Rối loạn hấp thu có thể do một số bệnh đường tiêu hoá như viêm tuỵ, tắc mật, loét dạ dày – tá tràng …
2.1.3. Do nhu cầu cơ thể tăng nhưng cung cấp không đủ:
} Phụ nữ có thai, cho con bú, thiếu niên tuổi dậy thì hoặc bệnh nhân sau ốm dậy, sau mổ, nhiễm khuẩn kéo dài…đều có nhu cầu về vitamin và chất khoáng tăng hơn bình thường.
}Những trường hợp này nếu được bổ sung tôt bằng chế độ ăn uống thì không cần dùng thêm vitamin và chất khoáng dưới dạng thuốc.
}Uống hoặc tiêm vitamin và chất khoáng chỉ cần khi không ăn được do rối loạn tiêu hoá hoặc ăn không đủ (do mệt mỏi, chán ăn …).
2.2. Xử trí khi thiếu vitamin:
}Phát hiện nguyên nhân gây thiếu và loại bỏ là việc phải làm đầu tiên
} + Nếu thiếu do rối loạn hấp thu thì phải điều trị các bệnh liên quan (ỉa chảy, suy gan, tắc mật …).
} + Thiếu do cung cấp không đủ cho nhu cầu thì phải tăng cường thêm khẩu phần ăn hoặc sử dụng thêm vitamin và chất khoáng nếu thiếu trầm trọng …
III. THỪA VIATMIN VÀ CHẤT KHOÁNG
3.1. Nguyên nhân gây thừa và hậu quả
3.1.1. Do lạm dụng vitamin và chất khoáng dưới dạng thuốc
} Đây là nguyên nhân hàng đầu hay gặp nhất.
}Cần nhắc lại rằng những người khoẻ mạnh, không có rối loạn hấp thu và ăn với chế độ ăn đủ các chất thì không bao giờ phải dùng thêm vitamin hoặc chất khoáng dưới dạng thuốc.
Hậu quả:
}- Trẻ em dưới bốn tuổi thường xuyên uống vitamin A có hàm lượng trên 5000 đvqt/ngày có thể bị ngộ độc mạn tính với triệu trứng đau xương, ban đỏ, viêm da tróc vẩy, viêm miệng …
}- Liều vitamin A trên 100.000 đvqt/ngày có thể gây phồng thóp, co giật, tăng áp lực sọ não ở trẻ nhỏ
- Phụ nữ có thai dùng kéo dài hơn 5000 đvqt/ngày trong khi vẫn ăn uống đầy đủ và hấp thu tốt sẽ có nguy cơ thừa vitamin A, gây quái thai.
}- Vitamin C phụ thuộc nhóm tan trong nước nhưng khi dùng thường xuyên, đặc biệt ở liều cao cũng gây không ít tai biến: Ỉa chảy, loét đường tiêu hoá, viêm đường tiết niệu và đặc biệt là sỏi thận (tỷ lệ gặp cao ở bệnh nhân có tiền sử bệnh này). Dạng tiêm tĩnh mạch gây giảm sức bền hồng cầu, rút ngắn thời gian đông máu …
}- Các chế phẩm Vitamin B (hỗn hợp 3B) liều cao gây thừa vitamin B6 với các biểu hiện rối loạn thần kinh cảm giác, thừa Vitamin B12 với triệu chứng thừa cobalt gây tăng sản tuyến giáp, bệnh cơ tim và tăng hồng cầu quá mức.
3.1.2. Thừa do ăn uống
} Có một số tài liệu mô tả hiện tượng thừa vitamin A, thậm chí cả ngộ độc của thổ dân phương bắc do ăn gan gấu trắng
} Thừa beta-caroten do ăn kéo dài những thực phẩm giàu chất này thể hiện bằng hiện tượng nhuộm vàng da, nhờ đó ít nguy hiểm vì những người này tự động bỏ thức ăn đó.
} Nói chung, thừa vitamin do ăn uống ít gặp vì cơ thể có cơ chế tự điều chỉnh trong quá trình hấp thu qua đường tiêu hóa
3.1.2. Thừa do ăn uống
} Có một số tài liệu mô tả hiện tượng thừa vitamin A, thậm chí cả ngộ độc của thổ dân phương bắc do ăn gan gấu trắng
} Thừa beta-caroten do ăn kéo dài những thực phẩm giàu chất này thể hiện bằng hiện tượng nhuộm vàng da, nhờ đó ít nguy hiểm vì những người này tự động bỏ thức ăn đó.
} Nói chung, thừa vitamin do ăn uống ít gặp vì cơ thể có cơ chế tự điều chỉnh trong quá trình hấp thu qua đường tiêu hoá.
3.1.2. Thừa do ăn uống
} Có một số tài liệu mô tả hiện tượng thừa vitamin A, thậm chí cả ngộ độc của thổ dân phương bắc do ăn gan gấu trắng
} Thừa beta-caroten do ăn kéo dài những thực phẩm giàu chất này thể hiện bằng hiện tượng nhuộm vàng da, nhờ đó ít nguy hiểm vì những người này tự động bỏ thức ăn đó.
} Nói chung, thừa vitamin do ăn uống ít gặp vì cơ thể có cơ chế tự điều chỉnh trong quá trình hấp thu qua đường tiêu hoá.
}Hai vitamin có phạm vi an toàn hẹp nhất là Vitamin A và D. Liều tối đa cho phép chỉ gấp 10 lần nhu cầu trong bảng.
}Vitamin A đặc biệt nguy hiểm khi dùng liều cao cho phụ nữ có thai vì có nguy cơ gây quái thai hoặc tăng áp lực nội sọ ở thai nhi.
}Phụ nữ có thai nếu cần bổ sung chỉ được dùng những liều bằng lượng ghi trong bảng.
}Lượng vitamin và khoáng chất cần bổ sung hàng ngày tuỳ thuộc vào lứa tuổi, trạng thái bệnh lý …
}Trạng thái sinh lý: Nhu cầu hàng ngày sẽ tăng không chỉ theo lứa tuổi, khi có thai … mà cả theo hoạt động thể lực, lao động nặng, hoạt động thể thao …)
}Trạng thái bệnh lý: Khi bị bệnh kéo dài, đặc biệt là những trạng thái bệnh lý liên quan đến hệ tiêu hoá, nơi hấp thu vitamin (tắc mật, cắt đoạn dạ dày, ỉa chảy kéo dài …), khi gặp stress (sốt cao, sau mổ, nhiễm khuẩn nặng …).
II. THIẾU VITAMIN VÀ CHẤT KHOÁNG
2.1. Nguyên nhân gây thiếu:
} Các vitamin và chất khoáng luôn có sẵn trong ngũ cốc và thực phẩm (gạo, mỳ, thịt, cá, trứng, sữa, rau …), vì vậy đối với những người không có quá trình rối loạn hấp thu ở đường tiêu hoá (ỉa chảy, viêm tuỵ, loét dạ dày tá tràng …) và không ăn kiêng, có chế độ ăn cân đối với thực phẩm đảm bảo chất lượng thì không bao giờ thiếu và không cần bổ sung.
Vitamin luôn tồn tại song song với chất khoáng và các nguyên tố vi lượng (sắt, đồng, kẽm, calci …) nên những trường hợp thiếu vitamin cũng thường kèm theo thiếu cả chất khoáng và do đó khi bổ sung cũng cần tính đến cả chất khoáng.
Tuy nhiên, chất khoáng khá bền và ít bị hao hụt nên nguy cơ thiếu cũng ít hơn; việc bổ sung chất khoáng cần thận trọng vì phạm vi an toàn hẹp, dễ dẫn đến ngộ độc do quá liều.
2.1.1. Do cung cấp thiếu:
}Chất lượng thực phẩm không đảm bảo
}Khâu chế biến không đúng cũng có thể làm giảm lượng vitamin mặc dù chất lượng thực phẩm ban đầu tốt.
}Nghiện rượu: Nghiện rượu gây xơ gan dẫn đến giảm khả năng dự trữ vitamin của gan, gây tắc mật làm giảm hấp thu vitamin tan trong dầu, thiếu albumin làm giảm hấp thu vitamin A …
}Do đất và nguồn nước ở từng địa phương: Chất đất và nước ở một số vùng có hàm lượng iod hoặc fluorid thấp gây bệnh bướu cổ, hỏng răng …
2.1.2. Do rối loạn hấp thu:
}Suy dinh duỡng, ỉa chảy kéo dài, nghiện rượu
}Ở người cao tuổi: giảm chức năng của hệ tiêu hoá: Giảm sự tiêt dịch vị, dịch mật, dịch tuỵ, nhu động ruột yếu, hay bị táo bón nên việc dùng thuốc nhuận tràng kéo dài cũng là một nguyên nhân cản trở hấp thu các chất, trong đó có vitamin và chất khoáng.
}Rối loạn hấp thu có thể do một số bệnh đường tiêu hoá như viêm tuỵ, tắc mật, loét dạ dày – tá tràng …
2.1.3. Do nhu cầu cơ thể tăng nhưng cung cấp không đủ:
} Phụ nữ có thai, cho con bú, thiếu niên tuổi dậy thì hoặc bệnh nhân sau ốm dậy, sau mổ, nhiễm khuẩn kéo dài…đều có nhu cầu về vitamin và chất khoáng tăng hơn bình thường.
}Những trường hợp này nếu được bổ sung tôt bằng chế độ ăn uống thì không cần dùng thêm vitamin và chất khoáng dưới dạng thuốc.
}Uống hoặc tiêm vitamin và chất khoáng chỉ cần khi không ăn được do rối loạn tiêu hoá hoặc ăn không đủ (do mệt mỏi, chán ăn …).
2.2. Xử trí khi thiếu vitamin:
}Phát hiện nguyên nhân gây thiếu và loại bỏ là việc phải làm đầu tiên
} + Nếu thiếu do rối loạn hấp thu thì phải điều trị các bệnh liên quan (ỉa chảy, suy gan, tắc mật …).
} + Thiếu do cung cấp không đủ cho nhu cầu thì phải tăng cường thêm khẩu phần ăn hoặc sử dụng thêm vitamin và chất khoáng nếu thiếu trầm trọng …
III. THỪA VIATMIN VÀ CHẤT KHOÁNG
3.1. Nguyên nhân gây thừa và hậu quả
3.1.1. Do lạm dụng vitamin và chất khoáng dưới dạng thuốc
} Đây là nguyên nhân hàng đầu hay gặp nhất.
}Cần nhắc lại rằng những người khoẻ mạnh, không có rối loạn hấp thu và ăn với chế độ ăn đủ các chất thì không bao giờ phải dùng thêm vitamin hoặc chất khoáng dưới dạng thuốc.
Hậu quả:
}- Trẻ em dưới bốn tuổi thường xuyên uống vitamin A có hàm lượng trên 5000 đvqt/ngày có thể bị ngộ độc mạn tính với triệu trứng đau xương, ban đỏ, viêm da tróc vẩy, viêm miệng …
}- Liều vitamin A trên 100.000 đvqt/ngày có thể gây phồng thóp, co giật, tăng áp lực sọ não ở trẻ nhỏ
- Phụ nữ có thai dùng kéo dài hơn 5000 đvqt/ngày trong khi vẫn ăn uống đầy đủ và hấp thu tốt sẽ có nguy cơ thừa vitamin A, gây quái thai.
}- Vitamin C phụ thuộc nhóm tan trong nước nhưng khi dùng thường xuyên, đặc biệt ở liều cao cũng gây không ít tai biến: Ỉa chảy, loét đường tiêu hoá, viêm đường tiết niệu và đặc biệt là sỏi thận (tỷ lệ gặp cao ở bệnh nhân có tiền sử bệnh này). Dạng tiêm tĩnh mạch gây giảm sức bền hồng cầu, rút ngắn thời gian đông máu …
}- Các chế phẩm Vitamin B (hỗn hợp 3B) liều cao gây thừa vitamin B6 với các biểu hiện rối loạn thần kinh cảm giác, thừa Vitamin B12 với triệu chứng thừa cobalt gây tăng sản tuyến giáp, bệnh cơ tim và tăng hồng cầu quá mức.
3.1.2. Thừa do ăn uống
} Có một số tài liệu mô tả hiện tượng thừa vitamin A, thậm chí cả ngộ độc của thổ dân phương bắc do ăn gan gấu trắng
} Thừa beta-caroten do ăn kéo dài những thực phẩm giàu chất này thể hiện bằng hiện tượng nhuộm vàng da, nhờ đó ít nguy hiểm vì những người này tự động bỏ thức ăn đó.
} Nói chung, thừa vitamin do ăn uống ít gặp vì cơ thể có cơ chế tự điều chỉnh trong quá trình hấp thu qua đường tiêu hóa
3.1.2. Thừa do ăn uống
} Có một số tài liệu mô tả hiện tượng thừa vitamin A, thậm chí cả ngộ độc của thổ dân phương bắc do ăn gan gấu trắng
} Thừa beta-caroten do ăn kéo dài những thực phẩm giàu chất này thể hiện bằng hiện tượng nhuộm vàng da, nhờ đó ít nguy hiểm vì những người này tự động bỏ thức ăn đó.
} Nói chung, thừa vitamin do ăn uống ít gặp vì cơ thể có cơ chế tự điều chỉnh trong quá trình hấp thu qua đường tiêu hoá.
3.1.2. Thừa do ăn uống
} Có một số tài liệu mô tả hiện tượng thừa vitamin A, thậm chí cả ngộ độc của thổ dân phương bắc do ăn gan gấu trắng
} Thừa beta-caroten do ăn kéo dài những thực phẩm giàu chất này thể hiện bằng hiện tượng nhuộm vàng da, nhờ đó ít nguy hiểm vì những người này tự động bỏ thức ăn đó.
} Nói chung, thừa vitamin do ăn uống ít gặp vì cơ thể có cơ chế tự điều chỉnh trong quá trình hấp thu qua đường tiêu hoá.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét